VIỆN VỆ SINH DỊCH TỄ TRUNG ƯƠNG

TRUNG TÂM DỊCH VỤ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ Y TẾ DỰ PHÒNG

Trang chủ | Viện Pasteur | Giới thiệu | Bản đồ | Góp ý |
Liên kết website
  • Doitac01
  • Doitac02
  • Doitac03
  • Doitac04
Báo điện tử
  • Bao Ha Noi Moi
  • Bao Lao Dong
  • Bao Nhan Dan
  • Bao Tien Phong
  • Bao Tuoi Tre
  • Bao VN Express
  • Bao Dan Tri
Thời tiết Thời tiết
Đà Nẵng 31°C Da Nang
Đông Hà 28°C Dong Ha
Hà Giang 35°C Ha Giang
Hà Nội 34°C Ha Noi
Hải Phòng 32°C Hai Phong
Nha Trang 30°C Nha Trang
Pleiku 25°C Pleiku
Sơn La 30°C Son La
T.P Hồ Chí Minh 33°C T.P Ho Chi Minh
Việt Trì 33°C Viet Tri
Vinh 31°C Vinh
Nguồn: http://www.nchmf.gov.vn
Cập nhật: 30/09/2014 04:18 PM
MMR

MMR

Vắc xin tổng hợp phòng 3 bệnh: Sởi, Quai bị, Rubella
Giá : Liên hệ


Merck Sharp & Dohme

bột pha tiêm : hộp 10 lọ đơn liều + lọ dung môi 7 ml,

bột pha tiêm : hộp 10 lọ đơn liều + 10 lọ dungmôi, 
bột pha tiêm : lọ đơn liều + lọ dung môi

THÀNH PHẦN

cho 1 liều tính theo đơn vị CCID 50

Virus sống giảm độc tính của bệnh sởi (chủng Edmonston)

1.000

Virus sống giảm độc tính của bệnh quai bị (chủng Jeryl Lynn)

20.000

Virus sống giảm độc tính của bệnh rubella (chủng Wistar RA 27/3)

1.000

MÔ TẢ

M-M-R II là chế phẩm vô khuẩn đông khô phối hợp của: -Attenuvax (vắc-xin sống phòng vi-rút sởi), một dòng vi-rút sởi đã được giảm độcmạnh hơn từ chủng Edmonston đã giảm độc của Enders và để mọc trong môi trườngnuôi cấy tế bào phôi thaigà.            - Mumpsvax(vắc-xin sống phòng vi-rút quai bị), chủng vi-rút quai bị Jeryl Lynn™ (mức độB) cho mọc trong môi trường nuôi cấy tế bào phôi thai gà.

- Meruvax II (vắc-xin sống phòng vi-rút rubella), chủngvi-rút rubella sống đã giảm độc Wistar RA 27/3 cho mọc trong môi trường nuôi cấytế bào lưỡng bội người (WI-38).

Vắc-xin được tiêm dưới da sau khi hoàn nguyên. Sau khi hoànnguyên đúng như hướng dẫn, thì liều tiêm là 0,5 ml và chứa không ít hơn một lượngtương ứng với 1.000 CCID50 (liều gây nhiễm cho 50% tế bào nuôi cấy) vi-rútsởi; 20.000 CCID50 vi-rút quai bị và 1.000 CCID50 vi-rút rubella. Mỗiliều vắc-xin chứa 14,5 mg sorbitol; natri phosphat; 1,9 mg sucrose; natrichloride; 14,5 mg gelatin thủy phân; 0,3mg albumin người; < 1ppm huyết thanhphôi thai bò, những chất đệm và tá dược khác và khoảng 25 microgam neomycin. Sảnphẩm không chứa chất bảo quản.

DƯỢC LỰC

M-M-R II là một vắc-xin vi-rút sống dùng để tiêm phòng sởi,quai bị và rubella.

CHỈ ĐỊNH

M-M-R II được dùng để tạo miễn dịch phòng cho cả sởi, quai bịvà rubella ở trẻ từ 12 tháng tuổi trở lên (xem Liều lượng và Cách dùng).

Đã có bằng chứng cho thấy trẻ sinh ra từ bà mẹ có miễn dịchsởi tự nhiên và được tiêm chủng trước một tuổi có thể không tạo được miễn dịchbền vững khi được tái chủng sau này. Cần cân nhắc giữa lợi ích của việc được bảovệ sớm với khả năng không tạo được đáp ứng đầy đủ khi tái chủng về sau.

Trẻ dưới 15 tháng tuổi có thể không đáp ứng với thành phần cấuthành sởi của vắc-xin, vì kháng thể chống sởi từ mẹ truyền sang còn tồn dưtrong hệ tuần hoàn của đứa trẻ, trẻ càng ít tháng thì khả năng biến đổi thể dịchcàng thấp. Có thể tiêm chủng cho trẻ ở tuổi sớm hơn đối với những quần thể thuộcvùng địa dư biệt lập hoặc tương đối hẻo lánh, gặp nhiều khó khăn trong việc thựchiện các chương trình tiêm chủng, và ở những nhóm người mà có một tỷ lệ đáng kểnhiễm sởi tự nhiên ở trẻ em trước 15 tháng tuổi. Trong những trường hợp kểtrên, đối với những trẻ được tiêm chủng trước 12 tháng tuổi, thì phải được tiêmchủng lại sau khi đã đạt 15 tháng tuổi.

CHỐNG CHỈ ĐỊNH Quá mẫn cảm với bất kỳ thành phần nào củavắc-xin, kể cả gelatin.

Không tiêm chủng M-M-R II cho người mang thai, vì cho đếnnay chưa biết rõ những tác động có thể gây ra cho sự phát triển của phôi thai.Phải tránh mang thai trong 3 tháng sau khi tiêm nếu tiêm chủng cho phụ nữ sau dậythì (xem Lúc có thai và Lúc nuôi con bú).

Phản ứng phản vệ hoặc dạng phản vệ với neomycin (mỗi liều vắc-xinsau khi hoàn nguyên có chứa khoảng 25 microgam neomycin).

Mọi bệnh lý đường hô hấp có sốt hoặc bất kỳ tình trạng sốtnhiễm khuẩn đang tiến triển khác.

Bệnh lao đang tiến triển mà chưa được điều trị.

Người bệnh dùng thuốc ức chế miễn dịch. Chống chỉ định nàykhông áp dụng cho những người bệnh dùng corticoid làm liệu pháp thay thế nhưtrong bệnh Addison.

Người có rối loạn về máu, bệnh bạch cầu, u hạch bạch huyết ởmọi thể, hoặc những khối u tân sinh ác tính khác có ảnh hưởng tới tuỷ xương hoặctới hệ bạch huyết.

Trạng thái suy giảm miễn dịch tiên phát hoặc mắc phải kể cảngười bệnh suy giảm miễn dịch do bệnh AIDS hoặc các biểu hiện lâm sàng khác củanhiễm vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người; suy giảm miễn dịch tế bào và cáctrạng thái giảm gamma-globulin máu và tình trạng vô gamma-globulin máu. Đã cóbáo cáo bị bệnh sởi thể não (MIBE-Measles inclusion body encephalitis), viêm phổivà tử vong vì nhiễm khuẩn lan tỏa vi-rút vắc-xin sởi do sơ ý tiêm chủng vắc-xincó thành phần sởi cho người bị tổn thương nặng ở hệ miễn dịch.

Người có tiền sử gia đình suy giảm miễn dịch bẩm sinh hoặcdi truyền, cho đến khi chứng minh được họ đã có khả năng đáp ứng miễn dịch vớivắc-xin.

CHÚ Ý ĐỀ PHÒNG VÀ THẬN TRỌNG LÚC DÙNG Tổng quát:

Cần có bộ dụng cụ thích đáng, kể cả epinephrine (1:1000) đểluôn luôn sẵn sàng cấp cứu khi có phản ứng phản vệ hoặc dạng phản vệ.

Cần thận trọng khi dùng M-M-R II cho người có tiền sử cánhân hoặc gia đình bị co giật, tiền sử có tổn thương não hoặc trong bất kỳ tìnhtrạng nào mà cần tránh các stress do sốt. Cần thông báo cho thầy thuốc nếu bịtăng thân nhiệt sau khi tiêm chủng (xem Tác dụng ngoại ý).

Quá mẫn cảm với trứng:

Vắc-xin sống phòng sởi và quai bị được sản xuất trong tế bàonuôi cấy phôi gà. Người có tiền sử phản vệ, dạng phản vệ hoặc có các phản ứng tứcthì (như chứng phát ban, sưng nề miệng, họng, khó thở, hạ huyết áp, hoặcchoáng) sau khi ăn trứng, thì có thể có nguy cơ cao bị các phản ứng quá mẫnnhanh sau khi tiêm các vắc-xin có vết kháng nguyên phôi gà. Trong trường hợpnày, trước khi tiêm chủng, phải cân nhắc kỹ giữa các lợi ích và các nguy cơ cóthể xảy ra. Phải đặc biệt thận trọng khi tiêm chủng cho các đối tượng này và phảichuẩn bị sẵn sàng phương tiện cấp cứu nếu xảy ra phản ứng.

Giảm tiểu cầu:

Sau khi tiêm chủng, có thể xảy ra giảm tiểu cầu nặng hơntrên người bệnh giảm tiểu cầu sẵn có. Ngoài ra, những người có tiền sử giảm tiểucầu sau liều đầu sử dụng M-M-R II (hoặc các vắc-xin có chứa các thành phần này)có thể bị giảm tiều cầu khi tiêm nhắc lại. Cần đánh giá kỹ giữa lợi ích và nguycơ có thể xảy ra trước khi quyết định tiêm chủng cho các đối tượng này (xem Tácdụng ngoại ý).

Sử dụng trong nhi khoa:

Chưa xác định được tính an toàn và tính hiệu quả của vắc-xinsởi ở trẻ dưới 6 tháng tuổi. Cũng chưa xác định được tính an toàn và tính hiệuquả của vắc-xin quai bị và rubella cho trẻ dưới 12 tháng tuổi.

Các thận trọng khác:

Có thể tiêm chủng được cho trẻ em và người trẻ bị nhiễmvi-rút gây suy giảm miễn dịch cho người (HIV), nhưng không có biểu hiện lâmsàng rõ ràng về suy giảm miễn dịch. Tuy vậy, cần theo dõi chặt chẽ các bệnh đượcvắc-xin bảo vệ cho những người nhiễm HIV dù đã được tiêm chủng vì khả năng gâymiễn dịch có thể kém hơn so với những người không bị nhiễm khuẩn (xem Chống chỉđịnh).

Nhiều người có đáp ứng với tiêm chủng đã bài tiết một lượngnhỏ vi-rút rubella sống giảm độc ở mũi và họng sau khi chủng vắc-xin 7-28 ngày.Chưa rõ liệu những vi-rút đó có truyền được sang những người khác qua đường tiếpxúc không. Về lý thuyết, khi tiếp xúc gần gũi có thể có lan truyền vi-rút nhưngkhông thấy nguy cơ lớn lắm. Tuy vậy, đã có tài liệu về sự truyền vi-rút vắc-xinrubella cho trẻ bú mẹ (xem Lúc có thai và Lúc nuôi con bú).

Không có báo cáo về sự truyền vi-rút sống giảm độc của sởivà quai bị từ những người được tiêm vắc-xin tới người tiếp xúc.

Đã thấy các vắc-xin sống giảm độc phòng sởi, quai bị,rubella gây ra ức chế tạm thời tính nhạy cảm của da với tuberculin. Vì vậy, nếucần làm test tuberculin, cần làm test này hoặc trước hoặc cùng lúc với tiêmM-M-R II.

Không thấy có cơn kịch phát bệnh ở trẻ em đang được điều trịbệnh lao khi được tiêm chủng vắc-xin vi-rút sống phòng sởi; cho đến nay, chưacó nghiên cứu về tác động của vắc-xin vi-rút sởi trên trẻ em bị lao không đượcđiều trị.

Sản phẩm này có chứa albumin, có nguồn gốc từ máu người. Mặcdù về mặt lý thuyết, nó có thể truyền bệnh Creutzfeldt-Jacob (CJD) nhưng cho đếnnay chưa xác định được trường hợp nào lây truyền CJD hoặc các bệnh vi-rút kháccó liên quan đến việc sử dụng albumin này.

Cũng như mọi vắc-xin, M-M-R II không gây được biến đổi thể dịchcho 100% người được tiêm chủng.

LÚC CÓ THAI VÀ LÚC NUÔI CON BÚ

Lúc có thai:

Vì chưa rõ liệu tiêm chủng M-M-R II cho người mang thai cóthể gây nguy cơ cho thai hoặc ảnh hưởng lên khả năng sinh sản hay không. Chonên không được tiêm chủng vắc-xin này cho người mang thai; hơn nữa, cần tránhcó thai trong vòng 3 tháng sau khi tiêm chủng (xem Chống chỉ định).Để tư vấncho những người vô tình tiêm chủng vắc-xin lúc đang có thai hoặc có thai trongvòng 3 tháng sau khi tiêm vắc-xin, thì thầy thuốc cần biết như sau:

- Qua một điều tra trong 10 năm trên 700 phụ nữ tiêm chủng vắc-xinrubella trong vòng 3 tháng trước hoặc sau khi thụ thai (trong số đó, có 189 ngườiđược nhận chủng Wistar RA 27/3), không thấy trẻ đẻ ra có dị dạng tương tự như hộichứng rubella bẩm sinh.- Nhiễm quai bị trong 3 tháng đầu của thai kỳ làm tăng tỷlệ sảy thai tự nhiên. Mặc dầu cho thấy vi-rút vắc-xin quai bị nhiễm vào rauthai và thai, nhưng cũng không có căn cứ cho rằng nó gây ra dị dạng bẩm sinh ởngười.

- Có báo cáo cho thấy tiếp xúc với sởi tự nhiên lúc mangthai làm tăng nguy cơ cho thai. Bị sởi tự nhiên lúc mang thai làm tăng nguy cơsẩy thai, thai chết lưu, dị tật bẩm sinh và đẻ non. Chưa có nghiên cứu thích hợpvề ảnh hưởng của các chủng giảm độc của vi-rút sởi (trong vắc-xin) lúc mangthai. Tuy vậy, cần thận trọng và coi như vi-rút vắc-xin cũng có thể gây ra cáctác dụng xấu cho thai.

Lúc nuôi con bú:Chưa rõ rằng vi-rút vắc-xin sởi hoặc quai bịcó bài tiết qua sữa mẹ hay không. Những nghiên cứu mới đây cho biết người mẹđang cho con bú mà tiêm chủng vắc-xin rubella giảm độc sẽ bài tiết vi-rút nàyqua sữa và truyền sang trẻ bú mẹ. Chưa thấy trẻ nào mắc bệnh nặng trong số nhữngtrẻ có bằng chứng về huyết thanh đã nhiễm virút rubella, tuy vậy có thấy cáctriệu chứng lâm sàng nhẹ của bệnh rubella mắc phải. Cần thận trọng khi tiêm chủngM-M-R II lúc cho con bú.

TƯƠNG TÁC THUỐC

Sử dụng globulin miễn dịch cùng với M-M-R II có thể ảnh hưởngđến đáp ứng miễn dịch. Cần tránh tiêm chủng ít nhất là 3 tháng sau khi sử dụngglobulin miễn dịch (của người) và truyền máu hoặc huyết tương.

TÁC DỤNG NGOẠI Ý

Tác dụng phụ khi dùng M-M-R II cũng là những gì đã được báocáo khi dùng từng vắc-xin đơn giá hoặc đa giá.

Thường gặp:

Rát bỏng và/hoặc đau nhói tại nơi tiêm trong một thời gianngắn.

Ít gặp:

Toàn thân: Sốt (từ 38,3°C [101°F] trởlên).Da: Ban, thường là nhẹ, nhưng có thể lan tỏa. Nói chung, sốt, ban, hoặccả hai xảy ra giữa các ngày 5-12.

Hiếm gặp:

Toàn thân: Phản ứng nhẹ tại chỗ, như ban đỏ, chai hoặccăng cứng, đau họng, khó chịu, sởi không điển hình, ngất, dễ bị kích thích.

Tiêu hóa: Viêm tuyến mang tai, buồn nôn, nôn, tiêu chảy.

Máu / bạch huyết: Bệnh hạch bạch huyết từng vùng, giảmtiểu cầu, ban xuất huyết.

Quá mẫn cảm: Các phản ứng dị ứng như mày đay và ban đỏtại nơi tiêm, phản ứng phản vệ và dạng phản vệ, cũng như các hiện tượng có liênquan như phù mạch thần kinh (kể cả phù mặt và phù ngoại biên) và co thắt phế quản,mày đay trên cả những người có hoặc không có tiền sử dị ứng.

Cơ xương: Đau khớp và/hoặc viêm khớp (thường thoáng qua vàhiếm khi mạn tính [xem bên dưới]), đau cơ.

Thần kinh/ tâm thần: Co giật kèm sốt ở trẻ em, co giậtkhông sốt hoặc múa giật, nhức đầu, choáng váng, dị cảm, viêm nhiều dây thầnkinh, hội chứng Guillain-Barre, thất điều, bệnh sởi thể não (MIBE) (xem Chốngchỉ định). Có gặp 1 trường hợp viêm não/ bệnh não trong 3 triệu liều. Không thấytrường hợp nào chứng tỏ các phản ứng đó là do vắc-xin. Nguy cơ của những rối loạntrên thần kinh sau khi tiêm vắc-xin sống phòng sởi ít hơn nhiều so với tỷ lệ bịviêm não và bệnh não do chủng sởi tự nhiên (1/2000 trường hợp).

Hô hấp: Viêm phổi (xem Chống chỉ định), ho, viêm mũi.

Da: Hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, nổi bọngnước tại chỗ tiêm, sưng nề.

Các giác quan: Các dạng viêm thần kinh thị giác, gồmviêm dây thần kinh sau nhãn cầu, viêm gai thị và viêm võng mạc; liệt nhãn cầu,viêm tai giữa, điếc do tổn thương thần kinh thính giác, viêm kết mạc.

Sinh dục tiết niệu: Viêm tinh hoàn.

Các trường hợp khác: Tử vong vì các lý do khác nhau,trong một số trường hợp không rõ nguyên nhân hiếm gặp sau khi tiêm chủng vắc-xinsởi, quai bị, rubella; tuy nhiên không xác định được mối liên hệ nhân quả. Quanghiên cứu giám sát sau khi lưu hành thị trường ở Phần Lan trên 1,5 triệu trẻem và người lớn được tiêm chủng M-M-R II trong giai đoạn 1982-1993, không cótrường hợp tử vong hay cố tật nào.

Đau khớp và/ hoặc viêm khớp (thường là thoáng qua, ít khi mạntính) và viêm nhiều dây thần kinh là những nét đặc trưng của bệnh rubella tựnhiên và tùy theo tuổi và giới mà tần số và cường độ khác nhau, phản ứng nàycao nhất ở phụ nữ trưởng thành và thấp nhất ở trẻ em trước tuổi dậy thì.

Viêm khớp mạn tính thường phối hợp với nhiễm rubella tựnhiên và có liên hệ tới sự tồn lưu của vi-rút và/hoặc kháng nguyên vi-rút phânlập được ở các mô của cơ thể. Rất hiếm khi bị phát triển thành các hội chứng khớpmạn tính ở những người được tiêm chủng.

Sau khi tiêm chủng ở trẻ em, những phản ứng ở khớp là hiếm gặpvà xảy ra trong thời gian ngắn. Tỉ lệ rủi ro về viêm khớp và đau khớp ở phụ nữthường cao hơn ở trẻ em (trẻ em: 0-3%; phụ nữ: 12-20%) và những phản ứng cũngrõ rệt hơn và kéo dài hơn. Các triệu chứng có thể tồn tại khoảng vài tháng, mộtsố trường hợp hiếm thì kéo dài hàng năm. Mức độ của biến cố này ở thiếu nữ, nằmgiữa trẻ em và phụ nữ. Ngay ở phụ nữ lớn tuổi (35-45 tuổi), những phản ứng nàythường dễ dung nạp và ít khi ảnh hưởng tới các hoạt động bình thường.

Giám sát sau khi đưa thuốc ra thị trường cho hơn 200 triệuliều cả M-M-R và M-M-R II trên toàn thế giới trong hơn 25 năm (1971-1996) chothấy các báo cáo về tác dụng phụ nghiêm trọng như viêm não và bệnh não vẫn rấthiếm gặp.

Đã có những báo cáo về viêm não toàn thể xơ cứng bán cấp(SSPE) ở trẻ em không có tiền sử bệnh sởi tự nhiên nhưng dùng vắc-xin phòng sởi.Một số trường hợp trên có thể do bị sởi mà không biết trong năm đầu tiên hoặccó thể do chủng vắc-xin phòng sởi. Dựa vào sự phân phối vắc-xin phòng sởi ở nhiềunước, tỷ lệ xảy ra phản ứng SSPE sau khi chủng vắc-xin phòng sởi là khoảng mộtca bị phản ứng trong một triệu liều tiêm chủng. Tỉ lệ đó thấp hơn nhiều so vớicác trường hợp mắc sởi tự nhiên: 6-22 trường hợp SSPE cho một triệu ca bị sởi.Những kết quả trong một nghiên cứu hồi cứu bệnh-chứng của Trung tâm Kiểm soát Bệnhtật (CDC) cho thấy tác dụng chung của vắc-xin phòng sởi là bảo vệ phòng SSPE dohiệu quả dự phòng bệnh sởi cùng với nguy cơ cao SSPE vốn sẵn có của nó.

Hiếm gặp viêm tổ chức mỡ dưới da sau khi dùng vắc-xin sởi.

LIỀU LƯỢNG VÀ CÁCH DÙNG

Chỉ tiêm dưới da. Không được tiêm tĩnh mạch.

Không được dùng globulin miễn dịch (IG) cùng với M-M-R II(xem Tương tác thuốc).

Liều lượng cho mọi lứa tuổi là 0,5 ml tiêm dưới da, nên tiêmmặt ngoài của phía trên cánh tay.

Thận trọng: Cần sử dụng bơm kim tiêm vô khuẩn, không cóchất bảo quản, chất sát khuẩn, và chất tẩy rửa cho mỗi lần tiêm và/hoặc hoànnguyên vắc-xin vì các chất này có thể làm bất hoạt vắc-xin vi-rút sống. Nêndùng kim tiêm cỡ 25, 5/8".

Chỉ dùng dung môi kèm theo để hoàn nguyên, vì nó không chứachất bảo quản hoặc các chất kháng vi-rút khác mà có thể làm bất hoạt vắc-xin.

Khi có thể được, cần kiểm tra xem thuốc có vẩn đục hay đổimàu trước khi tiêm không. Trước khi hoàn nguyên, vắc-xin có dạng kết tinh màuvàng nhạt. Sau khi hoàn nguyên, vắc-xin M-M-R II có màu vàng trong.

Lịch tiêm chủng khuyến cáo:

Các đối tượng được tiêm chủng vào lúc 12 đến 15 tháng tuổihoặc muộn hơn, để tránh tương tác với kháng thể từ mẹ truyền sang, cần được táichủng lúc 4-6 tuổi vì nguy cơ phơi nhiễm vào thời điểm trẻ chuẩn bị vào tiểu họctăng cao. Tái chủng nhằm tạo ra biến đổi thể dịch cho những trẻ không có đáp ứngvới mũi tiêm thứ nhất.

Lưu ý: Lịch tiêm chủng ở mỗi khu vực có thể được cơquan tiêm chủng quy định để thay thế cho khuyến cáo trên.

Lịch tiêm khi có dịch sởi:

Trẻ em từ 6-12 tháng tuổi:Cơ quan y tế khu vực có thể khuyếncáo tiêm chủng vắc-xin sởi cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi trong các trường hợp có dịch.Quần thể này có thể không đáp ứng với các thành phần của vắc-xin này. Chưa xácđịnh được tính an toàn và tính hiệu quả của vắc-xin ngừa quai bị và rubella ởtrẻ nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Trẻ càng nhỏ tuổi thì khả năng biến đổi thể dịchcàng thấp. Những đứa trẻ này nên được tiêm mũi hai của M-M-R II lúc 15 tháng tuổivà tái chủng lúc 4-6 năm tuổi.

Các khía cạnh khác khi tiêm chủng:

Thiếu nữ và phụ nữ trưởng thành lúc không mang thai: Cóchỉ định gây miễn dịch bằng vắc-xin sống phòng vi-rút rubella cho các thiếu nữvà phụ nữ trưởng thành lúc không mang thai nếu thấy cần thiết (xem Chú ý đềphòng và Thận trọng lúc dùng). Tiêm chủng cho phụ nữ sau dậy thì tạo cho họ khảnăng bảo vệ nhiễm rubella mắc phải khi mang thai, nhờ đó phòng được nhiễm khuẩnvà các tổn thương bẩm sinh do rubella.

Cần dặn phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ không được có thaitrong vòng 3 tháng sau khi tiêm chủng và cần phải giải thích lý do cho thận trọngnày (xem Lúc có thai và Lúc nuôi con bú).

Nếu có các dịch vụ xét nghiệm tin cậy và là khả thi, có thểlàm các xét nghiệm huyết thanh cho phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ và có dự kiếntiêm chủng để xác định khả năng đáp ứng với rubella. Tuy nhiên trừ các trường hợpsàng lọc trước khi kết hôn hoặc trước khi sinh đẻ, việc tiến hành xét nghiệmhuyết thanh đại trà cho tất cả phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ để xác định khảnăng đáp ứng (qua đó chỉ tiêm vắc-xin cho phụ nữ có khả năng lây nhiễm) là cóhiệu quả nhưng quá tốn kém. Và cũng cần tới hai lần đi khám - một lần để sàng lọcvà lần kia để tiêm chủng. Tương tự như vậy, dù không làm xét nghiệm huyếtthanh, việc tiêm chủng cho một phụ nữ chưa được tiêm chủng trước đó, không cầnbiết sẽ mang thai hay không cũng là chấp nhận được, và có khi lại là hợp lý, đặcbiệt là khi chi phí làm xét nghiệm huyết thanh cao và không chắc chắn sẽ theodõi được các phụ nữ được xác định là có khả năng lây nhiễm.

Phụ nữ sau khi dậy thì cần được thông báo về khả năng xảy raviêm và/hoặc đau khớp tự giới hạn 2-4 tuần sau khi tiêm chủng (xem Tác dụng ngoạiý).

Phụ nữ sau đẻ: Trong nhiều trường hợp cho thấy tiêm chủngvắc-xin ngừa rubella cho phụ nữ có khả năng lây nhiễm ngay sau khi đẻ là kháthuận tiện (xem Lúc có thai và Lúc nuôi con bú).

Các quần thể khác:

Các đứa trẻ trên 12 tháng tuổi mà chưa được tiêm vắc-xin trướcđó, nếu tiếp xúc với phụ nữ có khả năng bị lây nhiễm thì nên được tiêm vắc-xinvi-rút sống ngừa rubella giảm độc lực (ví dụ như vắc-xin đơn giá ngừa rubellahoặc M-M-R II) để giảm nguy cơ phơi nhiễm cho phụ nữ mang thai.

Những người dự định đi du lịch nước ngoài, nếu chưa có miễndịch thì có thể mắc phải sởi, quai bị hoặc rubella và mang các bệnh này về nướcmình. Do đó, trước khi đi du lịch nước ngoài, thì những người có khả năng bịlây nhiễm một hoặc nhiều bệnh nêu trên, nên được tiêm một vắc-xin đơn giá(phòng sởi, quai bị hoặc rubella) hoặc một vắc-xin kết hợp nhiều kháng nguyênthích hợp. Dầu sao, nên dùng vắc-xin M-M-R II cho những người có thể mắc quai bịvà rubella; và nếu không có sẵn vắc-xin đơn giá phòng sởi, thì du khách có thểdùng M-M-R II mà không cần phải xem xét tình trạng miễn dịch của họ với quai bịhoặc rubella.

Tiêm chủng được khuyến cáo cho các đối tượng có khả năng bịlây nhiễm trong nhóm có nguy cơ cao như sinh viên, nhân viên y tế và nhân viênquân sự.

Tiêm chủng sau khi phơi nhiễm:

Nếu được tiêm chủng trong vòng 72 giờ sau khi phơi nhiễm vớisởi tự nhiên thì cũng có thể có một số tác dụng bảo vệ nhất định. Tuy nhiên nếuđược tiêm vài ngày trước khi phơi nhiễm thì có thể có tác dụng bảo vệ vững chắchơn. Tuy nhiên chưa có bằng chứng nào có thể khẳng định rằng tiêm chủng ngaykhi phơi nhiễm với vi-rút sởi tự nhiên hoặc vi-rút rubella tự nhiên là có thể bảovệ ngay được.

Sử dụng cùng vắc-xin khác:

Phải tiêm M-M-R II một tháng trước hoặc một tháng sau khidùng những loại vắc-xin vi-rút sống khác.

M-M-R II đã được tiêm cùng với vắc-xin varicella và Hib bằngbơm kim tiêm riêng và ở vị trí khác nhau. Không thấy có suy giảm đáp ứng miễn dịchcủa từng kháng nguyên được thử nghiệm. Dạng, tần suất, cường độ của các tác dụngphụ khi dùng cùng M-M-R II cũng tương tự như đã thấy khi dùng từng vắc-xinriêng rẽ.

Không có khuyến cáo dùng thường qui các vắc-xin DTP (bạch hầu,uốn ván, ho gà) và/hoặc OPV (vắc-xin bại liệt uống) cùng với vắc-xin sởi, quaibị, rubella vì có ít dữ liệu liên quan đến việc sử dụng đồng thời các khángnguyên này.

Tuy nhiên một số phác đồ khác đã được sử dụng. Dữ liệu từ mộtsố tài liệu đã được công bố về việc sử dụng hàng loạt toàn bộ vắc-xin được khuyếncáo (ví dụ như DTP, OPV, MMR, và vắc-xin Hib, có kèm theo hoặc không kèm theo vắc-xinviêm gan B), cho thấy không có tương tác giữa các vắc-xin được khuyến cáo thườngqui cho trẻ em (bất kể đó là loại sống, giảm độc hay chết).

Lọ đơn liều: Các vắc-xin dùng để tái chủng bao gồm vắc-xinsởi đơn giá [Attenuvax (vắc-xin sống phòng vi-rút sởi)] và các vắc xin đa giácó thành phần sởi [ví dụ như M-M-R II, M-M-VAX (vắc-xin sống phòng vi-rút sởi,quai bị)]. Nếu chỉ có một mục đích phòng ngừa các vụ dịch lẻ tẻ, thì nên xemxét tới việc sử dụng vắc-xin sởi đơn giá (xem thêm thông tin sản phẩm tương ứng).Nếu có cả quan ngại về tình trạng miễn dịch của quai bị hoặc rubella, thì nêntái chủng với các vắc-xin đơn giá tương ứng hoặc sử dụng vắc-xin đa giá sau khitham khảo các thông tin sản phẩm tương ứng.

Trước hết rút toàn bộ lượng dung môi vào bơm tiêm để hoànnguyên. Bơm toàn bộ số dung môi này vào lọ đựng vắc-xin đông khô và lắc đều chotan hết. Dùng bơm tiêm rút hết dung dịch vừa pha và tiêm toàn bộ lượng vắc-xinđã hoàn nguyên này vào dưới da.

Quan trọng là phải dùng bơm kim tiêm riêng biệt cho mỗi người,phòng sự lan truyền viêm gan B và các tác nhân nhiễm khuẩn khác từ người nọsang người kia.

QUÁ LIỀU

Hiếm gặp các báo cáo về quá liều và không có liên quan tới bấtkỳ tác dụng phụ nghiêm trọng nào.

BẢO QUẢN

Trước khi hoàn nguyên, cần bảo quản M-M-R II ở 2-8°C(36-46°F). Luôn tránh ánh sáng vì có thể làm bất hoạt vi-rút.

Cần dùng vắc-xin càng sớm càng tốt sau khi hoàn nguyên. Để vắc-xinsau khi hoàn nguyên trong lọ ở chỗ tối ở 2-8°C (36-46°F) và bỏ đi nếu khôngdùng trong vòng 4 giờ.

Trong quá trình vận chuyển, để đảm bảo hiệu lực không bị giảm,cần giữ vắc-xin dưới 10°C (50°F). Đông lạnh trong quá trình vận chuyển khônglàm ảnh hưởng đến hiệu lực.

Dung môi có thể được bảo quản trong tủ lạnh cùng với vắc-xinđông khô hoặc riêng rẽ ở nhiệt độ phòng.

Nguồn Mims.com


Bạn cần phải Đăng nhập trước khi gửi bình luận.
 
Ngôn ngữ - Language
VIDEO CLIP
Tin nổi bật
Danh muc vac xin tai trung tam tiem chung 131 Lo Duc - Ha NoiWebsite HPV Viet Nam Hoi Y hoc du phong Viet NamThong bao nghi tet nguyen danThong bao da co vac xin phong benh cumAustralia nghien cuu noc doc nhen chua ung thu vuVacxin moi ngua sot retY thuc tiem chung phong benh - Can nang cao9 buoc phong benh mua cumMy phat hien chung virus cum gia cam moi H3N8400 nha hang khach san khong khoi thuoc la
Hỗ trợ trực tuyến
Sản phẩm mới
MMR MMR
2.0/5 12330